Chuyên mục: Quyền trẻ em

Ktktlaocai.edu.vn – Quyền trẻ em và những điều cần biết về luật pháp, quyền lợi được áp dụng riêng cho trẻ em, với mỗi độ tuổi khác nhau thì trẻ em được hưởng quyền lợi khác nhau

Chăm sóc trẻ em là gì ? Tìm hiểu về luật chăm sóc trẻ em

 

Chăm sóc trẻ em là gì ? Luật chăm sóc trẻ em là gì ? là vấn đề nhiều người thắc mắc. Nếu bạn đang muốn tìm hiểu vấn đề trên, hãy tham khảo thông tin chi tiết qua bài chia sẻ dưới đây.

1. Chăm sóc trẻ em là gì ? Luật chăm sóc trẻ em là gì ?

Hiểu một cách đơn giản, chăm sóc trẻ em là hoạt động nuôi dưỡng, giáo dục và theo dõi quá trình phát triển của trẻ nhỏ.

Chăm sóc trẻ em là gì ? Tìm hiểu về luật chăm sóc trẻ em
Chăm sóc trẻ em được hiểu là quá trình giáo dưỡng và chăm sóc trẻ nhỏ

Luật chăm sóc trẻ em là gì ? Luật chăm sóc trẻ em quy định về quyền, bổn phận của trẻ em; nguyên tắc, biện pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em.

Đối tượng áp dụng của Luật chăm sóc trẻ em là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ sở giáo dục, gia đình, công dân Việt Nam; cơ quan, tổ chức quốc tế, tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, cá nhân là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân).

>>> Xem thêm: Khái niệm trẻ em được hiểu như thế nào?

2. Luật chăm sóc trẻ em được hiểu như thế nào?

Trong Luật chăm sóc trẻ em, các từ ngữ được hiểu như sau:

 Bảo vệ trẻ em là việc thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

 Phát triển toàn diện của trẻ em là sự phát triển đồng thời cả về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và mối quan hệ xã hội của trẻ em.

 Chăm sóc thay thế là việc tổ chức, gia đình, cá nhân nhận trẻ em về chăm sóc, nuôi dưỡng khi trẻ em không còn cha mẹ; trẻ em không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang nhằm bảo đảm sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Người chăm sóc trẻ em là người đảm nhận nhiệm vụ chăm sóc trẻ em, bao gồm người giám hộ của trẻ em; người nhận chăm sóc thay thế hoặc người được giao trách nhiệm cùng với cha, mẹ của trẻ em cấp dưỡng, chăm sóc, bảo vệ trẻ em.

Chăm sóc trẻ em là gì ? Tìm hiểu về luật chăm sóc trẻ em
Luật trẻ em có quy định rất rõ về vấn đề chăm sóc trẻ em

Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác.

Bạo lực trẻ em là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của trẻ em.

Bóc lột trẻ em là hành vi bắt trẻ em lao động trái quy định của pháp luật về lao động; trình diễn hoặc sản xuất sản phẩm khiêu dâm; tổ chức, hỗ trợ hoạt động du lịch nhằm mục đích xâm hại tình dục trẻ em; cho, nhận hoặc cung cấp trẻ em để hoạt động mại dâm và các hành vi khác sử dụng trẻ em để trục lợi.

Xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức.

Bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em là hành vi của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em.

Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em không đủ điều kiện thực hiện được quyền sống, quyền được bảo vệ, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền học tập, cần có sự hỗ trợ, can thiệp đặc biệt của Nhà nước, gia đình và xã hội để được an toàn, hòa nhập gia đình, cộng đồng.

Giám sát việc thực hiện quyền trẻ em theo ý kiến, nguyện vọng của trẻ em là việc xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan về trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền trẻ em và giải quyết các ý kiến, kiến nghị của trẻ em, bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Trên đây là một số chia sẻ về chăm sóc trẻ em và luật chăm sóc trẻ em. Bài viết hi vọng đã đem đến thông tin hữu ích cho bạn đọc.

Categories: Quyền trẻ em

Khái niệm trẻ em được hiểu như thế nào? Khái niệm trẻ em là gì ?

Khái niệm trẻ em được hiểu như thế nào? Khái niệm trẻ em là gì ?

 

Trẻ em được hiểu là những em nhỏ dưới 16 tuổi. Tuy nhiên, không phải ai cũng có một cách hiểu đầy đủ về khái niệm này. Vậy khái niệm trẻ em được hiểu như thế nào.

1. Trẻ em là gì ? Khái niệm trẻ em được hiểu như thế nào ?

Xét về nghĩa đen, có lẽ không một người Việt Nam nào lại không hiểu hai từ “trẻ em” là gì. Như vậy cũng có nghĩa là hai từ “trẻ em” có nghĩa rất đơn giản, thông dùng vì ai ai cũng biết và cũng hiểu. Thế nhưng, xét dưới góc độ pháp luật thì cụm từ “trẻ em” đang tồn tại quá nhiều bất cập trong các văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta hiện nay.

Vậy khái niệm trẻ em được hiểu như thế nào?

Thực tế, khái niệm trẻ em được hiểu theo nhiều khía cạnh. Cũng có rất nhiều khái niệm biểu thị vấn đề này. Cụ thể như sau:

Về mặt sinh học, trẻ em là những con người ở giữa giai đoạn sơ sinh và tuổi dật thì. Định nhía pháp lý về một “trẻ em” nói chung biểu thị một đứa trẻ, còn được biết tới là một người chưa trường thành.

Khái niệm trẻ em được hiểu như thế nào? Khái niệm trẻ em là gì ?
Khái niệm trẻ em được xét và hiểu trên nhiều khía cạnh khác nhau

Xét về góc độ pháp lý, khái niệm này cũng được quy ước theo nhiều cách khác nhau.

Theo Công ước quyền trẻ em tại Điều 1 quy định:“ Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định dưới tuổi thành niên sớm hơn”. Tuy nhiên, trong Luật trẻ em Việt Nam 2016, ở Điều 1 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Có thể khẳng định rằng có sự khác biệt quy định về độ tuổi của trẻ em ở Việt Nam so với Công ước quốc tế.

>>> Tham khảo thêm: Một số điều cần biết về bệnh tự kỷ ở trẻ em

2. Xác định độ tuổi trẻ em có ảnh hưởng như thế nào?

Hiện nay, tại Việt Nam, quy định về độ tuổi trong các văn bản luật và dưới luật không có sự đồng nhất, thậm chí còn chồng chéo lên nhau. Điều này có thể sẽ ảnh hưởng đến việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Cụ thể:

Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì Nam đủ 20 tuổi và nữ đủ từ 18 tuổi trở lên sẽ được kết hôn. Trong khi đó theo Luật dân sự 2015, người đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên. Như vậy, thì nam đủ 20 tuổi mới được kết hôn.

Theo Luật Lao động năm 2012 thì người lao động là người đủ 15 tuổi trở lên. Theo như các quy định trên thì người lao động có thể là người chưa thành niên, vẫn là trẻ em.

Khái niệm trẻ em được hiểu như thế nào? Khái niệm trẻ em là gì ?
Tại Việt Nam, việc xác định tuổi trẻ em chưa có sự đồng nhất trên các văn bản pháp luật

 Theo Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 cũng xác định đối tượng xử phạt hành chính phải từ đủ 14 tuổi trở lên, cụ thể là: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính” , quy định này đồng nghĩa với việc coi trẻ em là 14 thay vì 16 như quy định chung.

Sự quy định thiếu đồng nhất và không rõ ràng về độ tuổi trẻ em như trên đã gây ra không ít khó khăn, bất cập trong công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Nghiên cứu về “Nâng độ tuổi pháp lý của trẻ em lên dưới 18 trong bối cảnh Việt Nam hiện nay – lợi ích, tác động và một số giải pháp” do Hội Bảo vệ Quyền trẻ em Việt Nam phối hợp cùng Tổ chức Plan tại Việt Nam thực hiện đã chỉ rõ, về cơ sở khoa học, tâm sinh lý của trẻ em từ 16 – 18 tuổi còn non nớt, chưa hoàn thiện, có những thay đổi lớn trong giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em lên người trưởng thành với nhận thức xã hội, hành vi chưa chín chắn. Chính vì thế, trẻ em trong lứa tuổi này thường dễ bị tổn thương, dễ bị lợi dụng và lệch lạc về hành vi, thái độ, nhận thức; đồng nghĩa với việc dễ bị vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp cũng như có nguy cơ thực hiện các hành vi trái pháp luật khá cao.

Vậy nên hiện nay đang có nhiều luồng ý kiến cho rằng nên nâng độ tuổi của trẻ em lên đến dưới 18 tuổi.

Với những chia sẻ trên, hi vọng bài viết đã đem đến thông tin hữu ích, giúp bạn nắm được khái niệm trẻ em được hiểu như thế nào và quy định xác định độ tuổi trẻ em.

Categories: Quyền trẻ em

Quyền trẻ em là gì? Tìm hiểu 4 nhóm quyền của trẻ em

Quyền trẻ em là gì? Tìm hiểu 4 nhóm quyền của trẻ em

 

Quyền và bổn phận của trẻ em đang là vấn đề được quan tâm nhiều hiện nay. Vậy quyền trẻ em là gì? 4 nhóm quyền của trẻ em là gì? hãy cùng tìm hiểu thông tin chi tiết qua bài chia sẻ dưới đây.

1. Quyền trẻ em là gì? Thế nào là quyền trẻ em?

Quyền trẻ em được hiểu là là những quyền con người được áp dụng dành riêng cho trẻ em, ở mỗi độ tuổi khác nhau thì trẻ em  được  hưởng quyền và gánh vác những nghĩa vụ khác nhau.

Quyền trẻ em nhằm đảm bảo cho trẻ em không chỉ là người tiếp nhận thụ động lòng nhân từ của người lớn, mà các em là những thành viên tham gia tích cực vào quá trình phát triển.

Quyền trẻ em là gì? Tìm hiểu 4 nhóm quyền của trẻ em
Quyền trẻ em được hiểu là quyền con người được áp dụng riêng cho trẻ em

Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ em, vào ngày 20/2/1990. Tuy còn gặp nhiều khó khăn, Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ trong việc đưa tinh thần và nội dung của Công ước vào chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và luật pháp quốc gia.

>>> Tìm hiểu thêm về Luật bạo hành trẻ em

2. 4 nhóm quyền của trẻ em là gì? Thông tin cần nắm về nhóm quyền trẻ em

Quyền trẻ em được phân chia thành 4 nhóm. Cụ thể:

Quyền được sống còn: bao gồm quyền của trẻ em được sống cuộc sống bình thường và được đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất để tồn tại và phát triển thể chất. Đó là mức sống đủ, có nơi ở, ăn uống đủ chất, được chăm sóc sức khỏe. Trẻ em phải được khai sinh ngay sau khi ra đời.

Quyền được phát triển: gồm những điều kiện để trẻ em có thể phát triển đầy đủ nhất về cả tinh thần và đạo đức, bao gồm việc học tập, vui chơi, tham gia các hoạt động văn hóa, tiếp nhận thông tin, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Trẻ em cần có sự yêu thương và cảm thông của cha mẹ để có thể phát triển hài hòa.

Quyền được bảo vệ: bao gồm những quy định như trẻ em phải được bảo vệ chống tất cả các hình thức bóc lột lao động, bóc lột và xâm hại tình dục, lạm dụng ma túy, sao nhãng và bị bỏ rơi, bị bắt cóc và buôn bán. Trẻ em còn được bảo vệ khỏi sự can thiệp vô cớ vào thư tín và sự riêng tư.

Quyền được tham gia: tạo mọi điều kiện cho trẻ em được tự do bày tỏ quan điểm và ý kiến về những vấn đề có liên quan đến cuộc sống của mình. Trẻ em còn có quyền kết bạn, giao lưu và hội họp hòa bình, được tạo điều kiện tiếp cận các nguồn thông tin và chọn lựa thông tin phù hợp.

3. Trẻ em có bao nhiêu quyền và bổn phận?

Theo Luật Trẻ em được thông qua ngau 5/4/2016 Quốc hội khóa 13, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/6/2017, trẻ em có 5 quyền và 5 nghĩa vụ. Cụ thể như sau:

Quyền trẻ em là gì? Tìm hiểu 4 nhóm quyền của trẻ em
Trẻ em cũng có những quyền và bổn phận riêng

25 quyền của trẻ em, bao gồm:

  • Quyền sống
  • Quyền được khai sinh và có quốc tịch
  • Quyền được chăm sóc sức khỏe
  •  Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu
  • Quyền vui chơi, giải trí
  • Quyền giữ gìn, phát huy bản sắc
  •  Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
  • Quyền về tài sản
  •  Quyền bí mật đời sống riêng tư
  • Quyền được sống chung với cha, mẹ
  • Quyền được đoàn tụ, liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ
  • Quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi
  • Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục
  • Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động
  • Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc
  • Quyền được bảo vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt
  • Quyền được bảo vệ khỏi chất ma túy
  • Quyền được bảo vệ trong tố tụng và xử lý vi phạm hành chính
  •  Quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang
  • Quyền được bảo đảm an sinh xã hội
  • Quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội
  • Quyền được bày tỏ ý kiến và hội họp
  • Quyền của trẻ em khuyết tật
  • Quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn

5 bổn phận của trẻ em bao gồm:

  • Bổn phận của trẻ em đối với gia đình
  • Bổn phận của trẻ em đối với nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác
  • Bổn phận của trẻ em đối với cộng đồng, xã hội
  • Bổn phận của trẻ em đối với quê hương, đất nước
  • Bổn phận của trẻ em với bản thân

Trên đây là một số thông tin về quyền trẻ em. Hi vong bài viết đã đem đến thông tin hữu ích, giúp bạn tìm hiểu Quyền trẻ em là gì?cũng như quyền và nghĩa vụ cụ thể của trẻ em.

Categories: Quyền trẻ em

Những hành vi thế nào là xâm hại trẻ em?

No Comments

Xâm hại tình dục trẻ em chẳng còn là vấn đề xa lạ trong xã hội hiện nay, đặc biệt là khi cuộc sống ngày càng hiện đại, tệ nạn ngày càng nhiều và tình trạng tha hóa đạo đức vẫn diễn ra một cách nghiêm trọng. Chính bởi vậy mà hiểu biết về xâm hại tình dục trẻ em cần được quan tâm và lan tỏa rộng rãi hơn, những hành vi thế nào là xâm hại trẻ em?

1. Xâm hại tình dục trẻ em là gì? Thế nào là xâm hại trẻ em?

Theo Luật trẻ em 2016, xâm hại tình dục trẻ em được định nghĩa là việc dùng vũ lực, hay đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến quan hệ tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em, và sử dụng trẻ em vào mục đích thương mại như mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức.

thế nào là xâm hại trẻ em

Xâm hại tình dục trẻ em là tình trạng xảy ra không ít trong xã hội hiện nay

Hành vi xâm hại tình dục có thể thay đổi từ việc sờ mó bộ phận sinh dục của trẻ, thủ dâm, dùng miệng tiếp xúc với bộ phận sinh dục, sử dụng ngón tay động chạm vào bộ phận sinh dục của trẻ, quan hệ tình dục với trẻ qua đường sinh dục hoặc hậu môn. Ngoài ra, việc lạm dụng tình dục trẻ em không chỉ dừng lại ở các động chạm cơ thể mà còn bao gồm cả những hành vi không động chạm với cơ thể như khoe bộ phận sinh dục cho trẻ nhìn; kể cho trẻ nghe về quan hệ tình dục, cho trẻ xem phim, hoặc các loại truyện khiêu dâm, hướng dẫn, kích thích tình dục ở trẻ, có khi là rình xem trộm hoặc sử dụng hình ảnh khiêu dâm trẻ em.

2. Những thủ phạm xâm hại tình dục trẻ em thường là những đối tượng nào?

Nhiều người nghĩ những đối tượng xâm hại tình dục trẻ em thường là những kẻ biến thái, những tên tội phạm vô đạo đức ngoài xã hội, chính vì thế mà thường hay chủ quan. Thế nhưng mấy ai ngờ được rằng đó có khi lại là những người mà chúng ta tin tưởng nhất.

Người phạm tội xâm hại tình dục trẻ em không hẳn là những người bị loạn dục với trẻ em, trừ khi họ có một ham muốn tình dục mạnh mẽ ở trẻ em trước tuổi dậy thì. Có thể hiểu là không phải ai bị loạn dục với trẻ em thì chắc chắn sẽ có hành vi tình dục với trẻ em.

Đặc biệt, theo các thống về đối tượng thường gây ra xâm hại tình dục trẻ em cũng như qua các vụ việc về vấn đề này đã xảy ra, thủ phạm thường gặp nhất lại chính là những người quen biết (bạn bè của gia đình, hàng xóm, người trông trẻ,…) hoặc thậm chí chính là những người thân trong gia đình. Trường hợp là người lạ mặt chỉ chiếm khoảng 10% và những người bị loạn dục trong số đó chỉ chiếm thiểu số.

3. Sự khác nhau giữa xâm hại tình dục trẻ em và xâm hại trẻ em là gì?

Nếu như xâm hại tình dục trẻ em là một hành vi cụ thể nào đó liên quan đến bộ phận sinh dục của trẻ, thì xâm hại trẻ em còn rộng hơn thế và xâm hại trẻ em bao hàm cả xâm hại tình dục trẻ em. Vậy xâm hại trẻ em là gì?

thế nào là xâm hại trẻ em

Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại nghiêm trọng đến thể xác và tinh thần

Theo Luật trẻ em 2016, xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại nghiêm trọng về mặt thể chất, tâm lý, tình cảm, cũng như danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác nữa.

Trong luật xâm hại trẻ em mới năm 2017 và có hiệu lực từ 1/1/2018 được quy định trong Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi và bổ sung thì bên cạnh hành vi hiếp dâm và dâm ô thì mọi hành vi “xâm hại tình dục khác” với người dưới 16 tuổi sẽ cấu thành tội phạm.

Hi vọng rằng với những thông tin được cung cấp trong bài viết có thể giúp mọi người hiểu biết hơn về khái niệm xâm hại trẻ em cũng như xâm hại tình dục trẻ em, từ đó có thể bảo vệ tốt cho con em của mình khỏi những nguy cơ tác động xấu trong xã hội.

Xem thêm : Trẻ em lang thang cơ nhỡ rất cần sự quan tâm

Categories: Quyền trẻ em

Trẻ em lang thang cơ nhỡ rất cần sự quan tâm

Đời sống phát triển kéo theo những hệ lụy đáng tiếc ảnh hưởng trực tiếp tới thế hệ tương lai, một trong số đó là tình trạng trẻ em lang thang cơ nhỡ. Trẻ em lang thang cơ nhỡ đang rất cần sự quan tâm thiết thực hơn nữa từ cộng đồng để có cơ hội phát triển.

1. Trẻ em lang thang cơ nhỡ là gì?

Vì sao trẻ em lang thang cơ nhỡ là gì mà vấn đề này lại cần sự quan tâm, chung tay từ cộng đồng đến vậy?

Trẻ em lang thang cơ nhỡ là những đứa trẻ tham gia vào hoạt động kiếm sống trên đường phố, từ ăn xin, đánh giày tới bán dạo,… Đa số những trẻ này thực hiện những công việc trên để góp phần vào kinh tế gia đình và sẽ về nhà vào cuối ngày. Trẻ em lang thang cơ nhỡ thuộc nhóm này có thể vẫn được đến trường nhưng so sự khó khăn về kinh tế, cuối cùng có thể cuộc sống các em lựa chọn sẽ gắn với đường phố thường xuyên hơn.

Trẻ em lang thang cơ nhỡ ngày một nhiều

Trẻ em lang thang cơ nhỡ ngày một nhiều

Có khái niệm khác lại cho rằng trẻ em lang thang, trẻ em đường phố, trẻ em cơ nhỡ hay trẻ bụi đời là những đứa trẻ thực tế sống tại các đường phố hoặc bên ngoài gia đình. Các em không có liên hệ với gia đình hoặc có nhưng rất lỏng lẻo và không được duy trì thường xuyên.

Nhưng dù theo định nghĩa nào thì cuộc sống của các trẻ em này đều gắn với đường phố và những nguy cơ kèm theo. Đa số các trẻ em lang thang cơ nhỡ có độ tuổi từ 5 tới 17 tuổi. Số lượng trẻ lang thang cơ nhỡ ở các thành phố không giống nhau, thường tập trung ở những thành phố lớn.

2. Những nguy cơ với trẻ em lang thang cơ nhỡ

Cuộc sống trên đường phố có nhiều nguy cơ đối với trẻ em lang thang cơ nhỡ. Các em phải hàng ngày đối mặt với những vấn đề như thiếu ăn, bệnh tật, bị kì thị, xa lánh, bị lạm dụng sức lao động hay thậm chí nguy hiểm hơn là bị rủ rê nghiện ngập hoặc bị xâm hại. Nghiên cứu trên trẻ lang thang cơ nhỡ tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy có đến hơn 98% các em đã từng thử một hoặc nhiều các chất kích thích, chất gây nghiện như rượu bia hay thuốc lá, các loại heroin hay methamphetamine (đá) hoặc các loại tân dược. Đau lòng hơn, có tới 92,5% trẻ lang thang cơ nhỡ đã từng bị xâm hại tình dục mà thậm chí có em còn không biết mình bị xâm hại. Điều này gây những tổn thương lớn và lâu dài cả về thể chất lẫn tinh thần.

Trẻ em lang thang cơ nhỡ phải đối mặt với nhiều cạm bẫy và nguy hiểm

Trẻ em lang thang cơ nhỡ phải đối mặt với nhiều cạm bẫy và nguy hiểm

Thiếu kiến thức, thiếu thông tin để bảo vệ chính mình, không nơi nương tựa, không người sẻ chia, không biết những dịch vụ trợ giúp, hầu hết các em đều chọn giải pháp là im lặng khi bị lạm dụng hoặc xâm hại. Có những em vì mưu sinh mà chấp nhận việc bị lạm dụng. Sử dụng chất gây nghiện cũng khiến các em có nguy cơ mắc những bệnh nguy hiểm như viêm gan B, bệnh viêm gan C hay HIV cũng như những tổn thương tâm lý nặng nề.

3. Cần chung tay bảo vệ thế hệ tương lai

Ở độ tuổi của các trẻ em lang thang cơ nhỡ, lẽ ra các em phải được đến trường, được vui chơi, được học tập và có một tuổi thơ đúng nghĩa. Nhưng thay vì đó, các em phải hàng ngày sống trên đường phố với nhiều nguy cơ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Vậy chúng ta có thể làm gì để trẻ em lang thang cơ nhỡ có được cuộc sống như các em mơ ước và giảm thiểu tình trạng này?

Có lẽ biện pháp tốt nhất hiện nay cho tình trạng trẻ em lang thang cơ nhỡ hiện nay đó là sự phối hợp giữa những tổ chức phi chính phủ trong trợ giúp trẻ em và Nhà nước để thực hiện những dự án trợ giúp các em. Những dự án, hoạt động trợ giúp này phải nhằm giúp trẻ về lại gia đình, tái hòa nhập cộng đồng và quay lại trường học, hoặc hỗ trợ các em không thể về gia đình học tập, học nghề,..

Để giúp đỡ trẻ em lang thang cơ nhỡ được hiệu quả nhất thì cần sự phối hợp của nhiều ban ngành, từ những tổ chức phi chính phủ, các cơ quan nhà nước  đến các đơn vị tư nhân, các tổ chức nghiên cứu. Sự chung tay cùng nhau sẽ hiệu quả hơn giúp đỡ đơn lẻ, giúp các em có cơ hội có cuộc sống tốt đẹp hơn.

Trẻ em lang thang cơ nhỡ hàng ngày phải đối mặt với nhiều nguy hiểm, sự lạm dụng về cả thể chất lẫn tinh thần,… Cần lắm sự chung tay của cộng đồng để các em được học tập, được vui chơi và phát triển toàn diện.

Xem thêm : Trẻ em suy dinh dưỡng làm sao để chữa trị?

 

Categories: Quyền trẻ em

Bạo hành trẻ em là gì? Luật bạo hành trẻ em ở Việt Nam

Bạo hành trẻ em vẫn luôn là một vấn nạn nhức nhối trong xã hội mà hậu quả nó mang lại khiến trẻ em tổn thương sâu sắc về thể xác cũng như tâm hồn lâu dài. Cùng tìm hiểu về khái niệm bạo hành trẻ em là gì và những điều luật được pháp luật Việt Nam quy định liên quan đến vấn đề này.

A – Bạo hành trẻ em là gì?

Trước tiên, ta cần tìm hiểu khái niệm bạo hành trẻ em là gì, có rất nhiều định nghĩa khái nhau về bạo hành trẻ em.

Theo Tổ chức Sức khỏe Thế giới WHO, bạo hành trẻ em là tất cả những hành vi đối xử tệ bạc với trẻ em về cả thể chất và tinh thần như đánh đập, xâm hại tình dùng, lợi dụng hay bỏ bê… dẫn đến những mối nguy hiện tiềm năng hay hiện hữu đối với sức khỏe, nhân phẩm và sự phát triển của trẻ. Bất kỳ ai cũng có thể có hành vi bạo hành trẻ em, kể cả cha mẹ, người trông nom hay đứa trẻ khác.

Theo Cục bảo vệ cộng đồng, trẻ em và người khuyết tật của Queensland, Úc thì bạo hành trẻ em được chia thành 5 dạng là bạo hành thể chất, bạo hành tình dục, bạo hành tâm lý, bỏ bê và lạm dụng.

Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 của Việt Nam quy định về quyền trẻ em “Trẻ em được gia đình, nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự”, “Mọi hành vi vi phạm quyền của trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em đều bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật”.

khái niệm bạo hành trẻ em là gì

Bạo hành trẻ em là hành vi trái pháp luật cần bị lên án và bị pháp luật xử lý

B – Luật bạo hành trẻ em tại Việt Nam

Trong Hiến pháp cũng như các Nghị định, bộ Luật thì luật bạo hành trẻ em luôn được quan tâm và sửa đổi cho phù hợp nhất để đảm bảo quyền lợi của thế hệ tương lai đất nước.

Điều 37 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định rõ ràng rằng, các hành vi xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ bê, lạm dụng, bóc lột sức lao động hay các hành vi khác xâm hại đến quyền trẻ em đều bị nghiêm cấm.

Cụ thể, người bạo hành trẻ em có thể phải chịu các mức xử phạt sau đây:

Phạt hành chính

Các hành vi xâm phạm thân thể, gây tổn hại đến sức khỏe của trẻ em hoặc dùng biện pháp trừng phạt để dạy trẻ em khiến chúng bị tổn thương tinh thần và đau đớn thể xác sẽ bị phạt tiền từ 5 – 10 triệu đồng. Ngoài ra, người bạo hành còn phải chi trả mọi chi phí khám và chữa bệnh cho trẻ em bị bạo hành.

bạo hành trẻ em là gì

Người bạo hành trẻ em có thể bị phạt tiền từ 5 – 10 triệu đồng

Phạt hình sự

Các mức độ vi phạm nặng hơn, gây nhiều tổn thương hơn cho trẻ em có thể chịu mức phạt hình sự để đảm bảo răn đe đến người vi phạm.

Theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, người có hành vi cố tình gây thương tích, tổn hại đến sức khỏe của người khác (tỉ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% đối với trẻ em) thì sẽ phải chịu mức phạt cải tạo không giam giữ với thời hạn cao nhất là 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

Theo Điều 185 Bộ luật Hình sự năm 2015, người thân (ông bà, cha mẹ) có hành vi thường xuyên làm con cháu mình (đối tượng trẻ em) bị đau đớn về thể xác và tình thần thì sẽ chịu mức phạt hành chính, tuy nhiên nếu tái phạm sẽ bị phạt tù từ 2 năm đến 5 năm.

Theo Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 2015, người có hành vi đối xử độc ác hoặc làm nhục trẻ em (không thuộc vào tội ngược đãi tại điều 185) thì sẽ phải chịu mức phạt tù từ 1 năm đến 3 năm.

Lưu ý, mức phạt thực tế cho người bạo hành trẻ em dựa vào tính chất và mức độ của vi phạm cũng như các tình tiết giảm nhẹ nếu có.

Tuy đã có các đạo luật để bảo vệ trẻ em khỏi bạo hành nhưng thực tế, tình trạng này vẫn xảy ra thường xuyên và chưa được trừng phạt nghiêm khắc. Cần có những chế tài xử phạt mạnh mẽ, quyết liệt hơn để bạo hành trẻ em không còn là vấn nạn của xã hội.

Xem thêm >> Những hành vi thế nào là xâm hại trẻ em?

Categories: Quyền trẻ em